GS Lâm Quang Thiệp, nguyên Vụ trưởng Giáo dục đại học (Bộ Giáo dục và Đào tạo)


Xây dựng các Đại học quốc gia và Đại học vùng là chủ trương quan trọng về đổi mới giáo dục đại học (GDĐH) trong thời gian đầu thời kỳ đổi mới
ở nước ta. Bài viết này dành để phân tích về việc thực thi chủ trương đó, nhất là đối với đại học vùng, những vấn đề nảy sinh và các giải pháp khắc phục.

1. Giáo dục đại học nước ta trước thời kỳ đổi mới

Đại hội Đảng CSVN lần thứ 6 đã quyết định chuyển đổi kinh tế xã hội nước ta từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, đánh dấu bước đầu thời kỳ “đổi mới”.

Vậy trước thời kỳ đổi mới cấu trúc và hoạt động của GDĐH nước ta như thế nào?

Trước khi thống nhất đất nước GDĐH ở miền Bắc nước ta được xây dựng theo mô hình GDĐH Liên Xô, còn GDĐH ởmiền Nam chịu ảnh hưởng của mô hình Pháp và Mỹ. Sau khi thống nhất, GDĐH cả nước được xây dựng theo mô hình GDĐH miền Bắc, tức là mô hình GDĐH của Liên Xô.

Hệ thống GDĐH Liên Xô chịu ảnh hưởng của GDĐH Pháp và Đức, đồng thời được định hình theo mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung. Có thể nói hệ thống GDĐH Liên Xô có các đặc điểm chính như sau [Lâm Quang Thiệp, 2018].

1) Hệ thống trường đại học tách biệt với hệ thống các viện nghiên cứu khoa học mạnh, mà trên cùng của hệ thống nghiên cứu là Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô
2) Phần lớn các trường đại học là các trường đơn ngành hoặc đơn lĩnh vực, ngay các univerxitet (đại học tổng hợp) cũng chỉ bao gồm các ngành khoa học tự nhiên và khoa học xã hội, nhân văn, không bao gồm mọi lĩnh vực như các university của phương Tây.
3) Quy trình đào tạo đại học thường liền một mạch, 4 đến 6 năm, theo hướng chuyên ngành rất hẹp. Sau đại học là hai bậc tiến sĩ: canđiđat naukdoctor nauk.
4) Điều hành hệ thống theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung: chỉ tiêu tuyển sinh, kinh phí đào rạo, chương trình học đều được quyết định từ Nhà nước, sinh viên tốt nghiệp cũng được Nhà nước phân công vào các cơ sở kinh tế quốc doanh, tập thể hoặc biên chế nhà nước.  

Hệ thống GDĐH nói trên của Liên Xô có lúc đã phát triển tốt, hệ thống viện nghiên cứu mạnh cũng đã có đóng góp quan trọng để phát triển kỹ thuật quân sự phục vụ cuộc kháng chiến chống phát xít, đặc biệt trong việc phóng vệ tinh nhân tạo đầu tiên của thế giới năm 1957 và công cuộc nghiên cứu vũ trụ. Tuy nhiên, vào cuối thời kỳ tồn tại của Liên Xô, hệ thống GDĐH đã bộc lộ nhiều nhược điểm, đặc biệt là nạn thất nghiệp của sinh viên được đào tạo theo diện hẹp khi các lĩnh vực kinh tế quốc doanh và biên nhà nước không còn nhu cầu nhân lực. Sau khi Liên Xô tan rã, Liên bang Nga đã cải cách hệ thống GDĐH của mình, chuyển đổi phần lớn các trường đại học sang mô hình đa lĩnh vực, thay đổi quy trình đào tạo liền một mạch và chuyên môn hẹp thành quy trình đa giai đoạn, theo diện rộng ở giai đoạn đại học, mọi đổi mới đều nhằm làm cho hệ thống GDĐH đáp ứng tốt kinh thế thị trường. Chính đi theo các hướng như vậy nên Liên bang Nga đã gia nhập quy trình Bologna đổi mới GDĐH của EU, nhằm xây dựng một hệ thống GDĐH tương đồng với Hoa Kỳ.

Hệ thống GDĐH Việt Nam trước thời đổi mới hoàn toàn giống như mô hình Liên Xô đã mô tả trên đây.

2. Chủ trương xây dựng các đại học quốc gia và đại học vùng vào thập niên 1990

Vào đầu thập niên 1990, khi Chính phủ chủ trương xây dựng một số trường đại học mạnh cho nước ta phục vụ quá trình đổi mới, Thủ tướng Võ Văn Kiệt yêu cầu Bộ GD&ĐT thiết kế các đại học này. Theo yêu cầu đó Bộ đã đề nghị xây dựng hai đại học quốc gia Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh, ba đại học vùng Thái Nguyên, Huế, Đà Nẵng theo mô hình đại học đa lĩnh vực [Hiệp hội.., 2017]. Riêng ở Đồng bằng sông Cửu Long Trường Đại học Cần Thơ đã duy trì mô hình đại học đa lĩnh vực vốn có từ  trước năm 1975.  

Tại sao đề xuất thiết kế theo mô hình đại học đa lĩnh vực?  

Phần lớn đại học 4 năm ở Hoa Kỳ và nhiều nước phương Tây được tổ chức theo mô hình đại học đa lĩnh vực, mô hình trường đại học có hiệu quả cao nhất, vì các lý do sau đây. Một là, các đại học đa lĩnh vực sẽ đảm bảo đào tạo tốt các chương trình “giáo dục khai phóng” (hoặc “giáo dục đại cương”) [Lâm Quang Thiệp, 2018], xu hướng GDĐH chủ đạo ở Hoa Kỳ, vì chỉ trong các university mới có đủ đội ngũ giáo sư, giảng viên có trình độ cao để giảng dạy tốt các chương trình giáo dục này. Hai là, các đại học đa lĩnh vực có ưu thế về nghiên cứu và phục vụ xã hội, vì ngày nay các đề tài nghiên cứu lớn đều là các đề tài có tính liên ngành, các hoạt động phục vụ xã hội cũng vậy. Ba là, đại học đa lĩnh vực bao gồm nhiều ngành đào tạo khác nhau dễ đối phó với sự biến động về nhu cầu nhân lực của từng nghề nghiệp trong nền kinh tế thị trường.  

Chính vì ưu thế của mô hình đại học đa lĩnh vực nên khi chuyển đổi từ kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang kinh tế thị trường, nhiều nước đã chuyển từ trường đại học đơn ngành hoặc đơn lĩnh vực sang đại học đa lĩnh vực. Ở Liên bang Nga, phần lớn các đại học đơn ngành đơn lĩnh vực thời Liên Xô cũ với tên gọi “inxtitut” chuyển sang mô hình đa lĩnh vực và đặt lại tên là “universitet” hoặc “academia”. Ở Trung Quốc Đại học Bắc Kinh vốn bao gồm các lĩnh vực khoa học tự nhiên và khoa học xã hội kiểu “universitet” của Liên Xô cũ, cũng như Đại học Thanh Hoa vốn là một đại học bách khoa với lĩnh vực kỹ thuật công nghiệp, đều đã mở bổ sung thêm nhiều lĩnh vực khác để trở thành các “university” đa lĩnh vực theo kiểu phương Tây [Lâm Quang Thiệp, 2018].

3. Từ thiết kế đến thực thi

Thiết kế được đề xuất cho các đại học quốc gia và đại học vùng theo mô hình đại học đa lĩnh vực nói trên, nhưng quá trìnhthực thi đã diễn ra không suôn sẻ. Thực tế là, vào đầu thập niên 1990 phần lớn các trường đại học nước ta có quy mô rất nhỏ, ctrên dưới 1000 sinh viên, nên việc xây dựng các đại học đa lĩnh vực phần lớn được triển khai theo hướng sáp nhập một số trường đại học đơn lĩnh vực.  Khó khăn nảy sinh chủ yếu do việc phản đối chủ trương sáp nhập của các trường thành viên, mà thực chất là vì mất nhiều “ghế” quản lý. Khó khăn này chẳng những nảy sinh đối với các trường đại học được sáp nhập mới từ các trường đơn ngành, đơn lĩnh vực, mà còn cả đối với các trường đại học thuộc đại học đa lĩnh vực trước đây, chẳng hạn các trường thuộc  “Viện đại học Huế” khá mạnh và ổn định trước đây, đã bị chia tách thành các trường đơn ngành đơn lĩnh vực sau năm 1975 theo mô hình GDĐH miền Bắc. Để thỏa hiệp với khó khăn đó, các nhà tổ chức phải hứa hẹn giữ nguyên vị trí các trường thành viên, không thay đổi các chức vụ quản lý trước đây, do đó các quy chế tổ chức đại học quốc gia và đại học vùng được xây dựng theo mô hình đại học hai cấp. Theo mô hình này, hoạt động trong các trường thành viên hầu như vẫn giữ như cũ, sự kết nối giữa các trường thành viên với nhau rất lỏng lẻo, hình thức, và cấp quản lý trên cùng của “đại học” thực hiện một cơ chế quản lý trung gian gián tiếp, giống như các “bộ Đại học” nhỏ. Mô hình thực tế của các đại học quốc gia và đại học vùng đã vô hiệu hóa hoàn toàn các ưu thế của mô hình đại học đa lĩnh vực như đã nói ở mục 1 trên đây. Thế nhưng cơ chế “hai cấp” của các đại học đa lĩnh vực thậm chí đã được khẳng định và gắn với khái niệm “đại học” ở Luật GDĐH năm 2012, chỉ được xóa bỏ trong Luật GDĐH năm 2018.

Thật vậy, đại học,

theo Luật GDĐH 2012:

là cơ sở giáo dục đại học bao gồm tổ hợp các trường cao đẳng, trường đại học, viện nghiên cứu khoa học thành viên thuộc các lĩnh vực chuyên môn khác nhau, tổ chức theo hai cấp, để đào tạo các trình độ của giáo dục đại học.,

còn theo Luật GDĐH 2018:

là cơ sở giáo dục đại học đào tạo, nghiên cứu nhiều lĩnh vực, được cơ cấu tổ chức theo quy định của Luật này; các đơn vị cấu thành đại học cùng thống nhất thực hiện mục tiêu, sứ mạng, nhiệm vụ chung.

(các chữ nghiêng do tác giả bài viết nhấn mạnh).

4. Hiện trạng và vấn đề

Mô hình hai cấp của các đại học quốc gia và đại học vùng, như nói trên, đã vô hiệu hóa các ưu thế của mô hình đạihọc đa lĩnh vực, và làm nảy sinh nhiều vấn đề về quản trị và quản lý các đại học.

Trước hết, các trường thành viên đều là các trường đơn ngành, đơn lĩnh vực, lại liên kết với nhau rất lỏng lẻo, hầu như hoàn toàn độc lập về đào tạo, nên ưu thế về việc nâng cao chất lượng đào tạo theo chương trình giáo dục khai phóng không thể hiện được. Cũng vậy, trong lĩnh vực nghiên cứu, phục vụ xã hội và đáp ứng thị trường lao động, quan hệ lỏng lẻo giữa các trường thành viên rất khó tạo nên sự phối hợp để tăng hiệu quả.

Khi nhận xét về dự thảo Luật GDĐH nước ta, văn bản của các chuyên gia WB đặc biệt phê phán mô hình các đại học quốc gia (cũng là mô hình các đại học vùng) [The World Bank team…, 2018]. Trước hết họ nói đó là mô hình duy nhất độc đáo tại Việt Nam (“is unique to Vietnam”) và không thấy ở bất kỳ nước nào trên thế giới (“We have not come across this set up in any country in the world”). Nói theo ngôn ngữ thông thường, đó là một mô hình “không giống ai” trên thế giới. Họ có nêu 3 mô hình gần tương tự tại Cộng hòa Nam Tư cũ, tại Côte d’Ivoire và tại Pháp, nhưng đều nhận xét là tất cả 3  trường hợp ấy đều thua kém các cơ sở khác trong hoạt động lâu dài.  Theo họ, các nhược điểm đó là: “không tận dụng được hết ưu thế về tài năng, kiến thức, và tiềm lực hiện có bị phân tán trong một số lớn các cơ sở tách biệt. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy rằng các cơ sở đại học phi tập trung hoạt động kiểu như các trường thành viên độc lập gắn kết yếu gặp thách thức lớn nhằm chuyển đổi và tăng cường hoạt động bởi vì mỗi trường thành viên đều có kế hoạch và ưu tiên của riêng mình, không nhất thiết gắn chặt với mục tiêu chung của đại học lớn. Sự thiếu tích hợp làm cho chúng không thể tạo nên một sự đồng nhất cốt lõi và một tình cảm chung về mục đích.  Khi không có một tầm nhìn chung, nhiệm vụ thiết kế và thực hiện một dự án phát triển đổi mới cho toàn bộ trường đại học trở thành bất lực. Các cơ sở đại học phi tập trung có xu hướng trở thành không hiệu quả vì sự trùng lặp của việc cung cấp các khóa học và các cấu trúc hành chính. Các hoạt động trong giảng dạy và nghiên cứu vẫn được giữ trong nội bộ các trường và khoa riêng biệt. Những nỗ lực đa ngành bị cản trở.  Các nguồn lực tài chính và khoa học không được chia sẻ rộng rải.”  Chính các nhận xét đó thể hiện khá đầy đủ nhược điểm của mô hình đại học hai cấp mà chúng tôi đã nhiều lần phát biểu [Lâm Quang Thiệp, 2017, 2018].

Đối với hai đại học quốc gia cũng như vậy, nhưng hai đại học quốc gia được “nâng cấp“ về quyền tự chủ, không còn “trực thuộc” Bộ GD&ĐT mà trực thuộc Chính phủ, nên vấn đề không quá nặng nề. Ở các đại học vùng tình trạng trầm trọng hơn vì chúng vẫn trực thuộc Bộ GD&ĐT, mức độ tự chủ của chúng thấp hơn, cho nên cho đến tận bây giờ nhiều trường thành viên vẫn bày tỏ mong muốn thoát khỏi mô hình này.  

5. Một số gợi ý về giải pháp khắc phục

Việc thay đổi định nghĩa “đại học” ở Luật GDĐH năm 2018 so với Luật GDĐH 2012 đã nêu ở mục 3 có thể xem như một gợi ý về giải pháp khắc phục các vấn đề về mô hình đại học quốc gia và đại học vùng. Định nghĩa ở Luật GDĐH 2018 đã bỏ khái niệm “hai cấp”, tức là  không khuyến khích sự tồn tại cấp quản lý trung gian của “đại học”, một cơ chế gây nhiều vấn đề và mâu thuẫn. Định nghĩa mới cũng nhấn mạnh tính “nhiều lĩnh vựcvà “cùng thống nhất thực hiện mục tiêu, sứ mạng, nhiệm vụ chung của đại học, tức là quy định đại học phải tạo nên một sự gắn kết chặt chẽ chứ không thể thả nổi cho một sự liên kết lỏng lẻohình thức như hiện nay.  

Nhược điểm của mô hình đại học hai cấp chẳng những được cảm nhận bởi các chuyên gia và các nhà quản lý GDĐH trong nước, mà còn được vạch rõ bởi các chuyên gia GDĐH quốc tế, như đã nói trên. Do đó rất cần có kế hoạch điều chỉnh mô hình này. Dưới đây là một số đề xuất của chúng tôi, những người trong cuộc có theo dõi diễn biến của việc xây dựng các đại học quốc gia và đại học vùng trong quá trình đổi mới GDĐH, và của các chuyên gia GDĐH thuộc WB, để mong những người có trách nhiệm của Nhà nước lựa chọn

Theo chúng tôi, tốt hơn hết các đại học quốc gia và đại học vùng nước ta nên xây dựng theo mô hình university thực sự, chứ không nên sử dụng mô hình đại học hai cấp. Muốn vậy, tùy theo điều kiện cụ thể nên xử lý một đại học hai cấp nào đó theo một trong hai giải pháp: 1) Cho phép các trường thành viên đơn ngành đơn lĩnh vực phát triển thành các university, và đại học hai cấp biến thành một tập đoàn các university với sự  liên kết không quá chặt chẽ theo kiểu University of California hoặc California State University của bang California, Hoa Kỳ [Lâm Quang Thiệp, 2017]; 2) Đại học hai cấp chuyển thành một university đơn nhất thực sự, thay đổi bộ phận điều phối trung gian thành cấp điều hành trực tiếp, toàn bộ university có một chương trình đào tạo chung, cũng như các chương trình nghiên cứu và phục vụ xã hội phối hợp chặt chẽ với nhau, như kiểu Trường Đại học Cần Thơ và một số đại học đa lĩnh vực khác ở nước ta.

Trong văn bản góp ý của WB đã nêu trên đây, các chuyên gia GDĐH của WB cũng đề xuất các giải pháp thay đổi mô hình các đại học quốc gia và đại học vùng như sau. Như một giải pháp ưu tiên, họ cho rằng: “trong “university” nên có các trường (schools, institutes, faculties) chứ không phải các “university”. Luật GDĐH sửa đổi nên tạo một điểm gặp để tích hợp các đại học thành viên vào một “university” mạnh mẽ và thống nhất nhằm dẫn đến sự xuất sắc về học thuật và công nhận quốc tế.  Việc tái cấu trúc dần dần sẽ làm hài hòa các thiết chế quản trị, và nếu quản lý tốt, nó có thể mang lại các lợi ích quan trọng, như các phương tiện và nguồn lực được chia sẻ chung, và các nỗ lực được hợp tác cho phép university thống nhất phát huy ưu thế so sánh của nó và tạo nên nền học vấn theo các cách chưa từng có”.  Họ còn nêu một cách tiếp cận khác, ưu tiên thấp hơn, nhưng vẫn tốt hơn hiện trạng, là: “ cho phép giám đốc đại học lớn được lựa chọn và bổ nhiệm hiệu trưởng các trường thành viên và có toàn quyền phân phối ngân sách cho các trường thành viên, cũng như có quyền lực trong việc bổ nhiệm các chức vụ học thuật và quản lý cao cấp trong các trường thành viên”. Mặc dù diễn đạt theo cách khác so với ý kiến của chúng tôi trên đây, nhưng đề xuất của các chuyên gia GDĐH thuộc WB vẫn thể hiện mong muốn các đại học quốc gia của chúng ta được thay đổi theo  mô hình các university thống nhất, gắn kết chặt chẽ để có cơ hội phát triển mạnh mẽ.

Giải pháp đề xuất của chúng tôi trên đây sẽ có hiệu quả càng cao nếu tinh thần tự chủ đại học theo tinh thần của Luật GDĐH năm 2018 càng được quán triệt.  Ở nước ta, khái niệm tự chủ của các cơ sở GDĐH lần đầu tiên đã được đưa vào Luật Giáo dục năm 1998. Sau đó, công cụ quan trọng để thực hiện tự chủ đại học là “hội đồng trường” đã lần đầu tiên được đưa vào ở Điều lệ Trường Đại học năm 2003 và liên tiếp khẳng định trong các luật Giáo dục và luật GDĐH sau đó. Cơ chế “bộ chủ quản”, một cản trở trở đối với quá trình tự chủ đại học, đã được qui định xóa bỏ tại Điều 3e trong Nghị quyết 14/2005/NQ-CP ngày 2/11/2005 của Chính phủ về đổi mới GDĐH. Và gần đây nhất, Luật GDĐH năm 2018 cũng dành trọn Điều 32 để quy định về quyền tự chủ và trách nhiệm giải trình của cơ sở GDĐH”, tức là của các đại học cũng như các trường thành viên, tuy nhiên các quyền tự chủ đó đều được ràng buộc bởi một cái đuôi là “phù hợp với quy định của pháp luật”.

Trong lịch sử, tự chủ đại học chỉ đạt được qua một quá trình đấu tranh lâu dài. Ngày nay khái niệm “tự chủ đại học” cũng phản ánh một quá trình dịch chuyển quyền lực, nên cũng sẽ là một quá trình đấu tranh tiếp tục. Hy vọng Nghị định hướng dẫn thi hành Luật GDĐH đang được soạn thảo và các điều quy định của pháp luật khác sẽ không vô hiệu hóa hoặc làm giảm sút quyền tự chủ đó, để đảm bảo cho sự phát triển mạnh mẽ của GDĐH nước ta.

Hà Nội, tháng 11 năm 2019

TÀI LIỆU DẪN

1. Lâm Quang Thiệp, 2018. Mô hình đại học đa lĩnh vực và việc triển khai xây dựng ở nước ta. Tap chí Khoa học và Công nghệ – Tháng 2 năm 2018.
http://khoahocvacongnghevietnam.com.vn/epaper/view-pdf.php?year=2018&no=3
2. Hiệp hội các trường đại học, cao đẳng Việt Nam, 2017. Một số tư liệu đổi mới giáo dục đại học Việt Nam giai đoạn 1987-1997. NXB Giáo dục, 2017.

3.   Lâm Quang Thiệp, 2018. “Sự trở lại của giáo dục khai phóng”, Hội thảo “Đổi mới căn bản và toàn diện hoạt động đào tạo trong các trường đại học và cao đẳng“, Hiệp hội các trường đại học và cao đẳng Việt Nam, thành phố Hồ Chí Minh 2/11/2018.

4.   Lâm Quang Thiệp, 2018. “Vấn đề mô hình của các đại học quốc gia và đại học vùng ở nước ta”, Hội thảo Giáo dục 2018 (VEC 2018), Hà Nội 17/8/2018.

5. The World Bank team comments on Vietnam HE Law amendment draft, 29/4/2018.
6. Lâm Quang Thiệp, 2017. Đại học đa lĩnh vực thành công trên thế giới, nhưng sao gặp “sự cố” ở ta? Giaoduc.net,15/09/17.
http://giaoduc.net.vn/Giao-duc-24h/Dai-hoc-da-linh-vuc-thanh-cong-tren-the-gioi-nhung-sao-gap-su-co-o-ta-post179666.gd
7. Lâm Quang Thiệp, 2017.Đổi mới Giáo dục đại học – Thập niên đầu tiên”, Báo điện tử Giáo dục Việt Nam – 27/9/2017. http://giaoduc.net.vn