Tiến sỹ Lê Viết Khuyến Phó Chủ tịch Hiệp hội Các trường Đại học, Cao đẳng Việt Nam

ĐỔI MỚI THỂ CHẾ ĐỂ XÂY DỰNG MỘT HỆ THỐNG GIÁO DỤC ĐA DẠNG, PHÂN TẦNG ĐÁP ỨNG YÊU CẦU NHÂN LỰC CHO SỰ NGHIỆP CÔNG NGHIỆP HOÁ,  HIỆN ĐẠI HOÁ VÀ HỘI NHẬP QUỐC TẾ CHO VIỆT  NAM TRONG NHỮNG THẬP NIÊN ĐẦU CỦATHẾ KỶ 21.  

Sau nhiều năm thực hiện đường lối đổi mới toàn diện, đất nước ta đã vượt qua  giai đoạn thử thách gay go , đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế – xã hội và đang có những bước đi vững vàng. Bước sang thời kỳ mới các Văn kiện Đại hội Đảng nhiều khoá gần đây cũng như Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII đều khẳng định phải đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá (CNH, HĐH) để từng bước thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”.

Sự nghiệp CNH, HĐH đất nước đòi hỏi phải có nguồn lực. Đối với Việt Nam, cả hai loại nguồn lực tài chính và tài nguyên thiên nhiên đều hạn chế nên, theo kinh nghiệm của nhiều quốc gia đi trước, nguồn lực con người đương nhiên sẽ đóng vai trò quyết định.

         So với các nước láng giềng Việt Nam có lợi thế đông dân. Tuy nhiên, nếu không được qua đào tạo thì dân đông sẽ là gánh nặng về dân số, còn nếu qua đào tạo chu đáo thì sẽ trở thành nguồn nhân lực lành nghề tác động trực tiếp lên tốc độ tăng trưởng kinh tế-xã hộicủa toàn quốc gia.  Một đội ngũ nhân lực lành nghề và đồng bộ cũng tạo nên sức hấp dẫn to lớn để thu hút đầu tư nước ngoài vào Việt nam. Vì thế, Báo cáo Chính trị Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII (1996) đã chỉ rõ: “…Giáo dục và Đào tạo là quốc sách hàng đầu; phương hướng chung của lĩnh vực giáo dục và đào tạo là phát triển nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước…”. Báo cáo Chính trị Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X (2006) cũng nêu rõ: ”… tạo nền tảng để đến năm 2020, nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại…”,”… rút ngắn quá trình công nghiệp hóa,hiện đại hóa đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa gắn với phát triển kinh tế tri thức,coi kinh tế tri thức là yếu tố quan trọng của nền kinh tế và công nghiệp hóa,hiên đại hóa…”.

Mô hình khung cơ cấu GDVN sau 2016

      Thời mốc đạt mục tiêu này cho tới nay đã được định hướng lại tại Nghị quyết số 23-NQ/TW ngày22/3/2018 về định hướng xây dựng chính sách phát triển công nghiệp quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045: “…Đến năm 2030, Việt Nam hoàn thành mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa, cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại; thuộc nhóm 3 nước dẫn đầu khu vực ASEAN về công nghiệp, trong đó một số ngành công nghiệp có sức cạnh tranh quốc tế và tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu. Tầm nhìn đến năm 2045, Việt Nam trở thành nước công nghiệp phát triển hiện đại…”. Phương hướng , nhiệm vụ và giải pháp phát triển kinh tế-xã hội 5 năm 2021 – 2025 (tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII, năm 2021) cũng nêu: “… đến năm 2025 là nước đang phát triển có công nghiệp theo hướng hiện đại, vượt qua mức thu nhập trung bình thấp…”, “…đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa dựa trên nền tảng của khoa học, công nghệ, đổi mới sang tạo và công nghệ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư…” và “…Tiếp tục đẩy mạnh phát triển nguồn nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao để đáp ứng yêu cầu phát triển trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và hội nhập quốc tế sâu rộng…”

        Từ những định hướng như trên, Nghị quyết 29-NQ/TW của Hội nghị TW8 Khóa XI về đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo đã nêu rõ nhiệm vụ của giáo dục và đào tạo: “…Hình thành hệ thống giáo dục nghề nghiệp với nhiều phương thức và trình độ đào tạo kỹ năng nghề nghiệp…” và “…Hoàn thành mạng lưới các cơ sở giáo dục đại học, cơ cấu ngành nghề và trình độ đào tạo phù hợp với quy hoạch phát triển nhân lực quốc gia…”.

Vậy nên hiểu như thế nào cho đúng về một hệ thống giáo dục, chính xác hơn là về một hệ thống giáo dục nghề nghiệp và GDĐH đa đạng, phân tầng về quy mô, cơ cấu ngành nghề và cơ cấu trình độ của đội ngũ nhân lực mà ngành giáo dục và đào tạo đang được giao nhiệm vụ chuẩn bị cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước ở các thập niên đầu của thế kỷ 21 này.

1. Về quy mô sự phân tầng giáo dục

1.1. Giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học không hướng trực tiếp tới mục đích phát triển dân trí. Tuy nhiên, với sự phát triển nhanh chóng của khoa học và công nghệ, quy mô đào tạo đại học ở nhiều nước đang không ngừng gia tăng và ở một số thời điểm, có sự gia tăng đột biến. Theo phân loại được thừa nhận hiện nay, một quốc gia nếu có tỷ lệ dân số trong độ tuổi 18 đến 22 được tiếp thu giáo dục đại học (chính xác hơn là giáo dục sau trung học) – được gọi là Tỷ lệ nhập học đại học – đạt dưới 15 % thì nền giáo dục của quốc gia đó được xem đang ở giai đoạn tinh hoa – giai đoạn hướng chủ yếu vào việc đào tạo các học giả và một số chuyên gia. Còn khi tỷ lệ trên nằm trong khoảng 15-50% – giáo dục đại học chuyển qua giai đoạn đại chúng; vượt quá 50 % – qua giai đoạn phổ cập – với mục tiêu là đào tạo ra không chỉ có các học giả mà còn có cả một đội ngũ rất hùng hậu gồm các chuyên gia, chuyên gia công nghệ, kỹ thuật viên và công nhân kỹ thuật cao. Theo báo cáo giáo dục của WB –2012 thì tỷ lệ này ở Hoa Kỳ là 95% (2010), ở Pháp là 57% (2010), ở Australia là 80% (2010), ở Hàn quốc là 103 % (2010), ở Thái Lan là 48% (2011). Trong khi đó, Việt Nam mặc dù đã rất cố gắng, thậm chí phải đổi giá về chất lượng, hãy còn dừng lại ở con số rất khiêm tốn là  24 % (2011), nằm dưới mức trung bình của thế giới là 30 %. Một báo cáo mới đây của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) cũng đưa ra nhận xét về tỷ lệ nhập học đại học của các quốc gia ASEAN còn khá thấp dẫn đến hạn chế năng lực của lực lượng lao động trình độ cao tại khu vực này.

1.2. Phân tầng giáo dục đại học là sự thừa nhận tính đa dạng về sứ mệnh của các cơ sở GDĐH. Khái niệm giáo dục đại học phân tầng trên thực tế chỉ gắn với một nền giáo dục đại học đại chúng (mass higher education) – một trong những đòi hỏi để bảo đảm cho một quốc gia bước vào giai đoạn hiện đại hóa.

Ở Việt Nam, vấn đề phân tầng giáo dục đại học tuy được nhắc đến nhiều nhưng dường như chỉ dừng lại ở sự “ ban phát danh hiệu“ của Nhà nước. Không ít trường đại học tuy được xếp vào loại “trọng điểm”, “định hướng nghiên cứu”, “đào tạo nhân lực chất lượng cao”, “xuất sắc” … nhưng lại có chi phí đơn vị rất thấp, quy mô sinh viên quá lớn và bỏ qua nhiệm vụ nghiên cứu khoa học. Trong khi đó một số trường lẽ ra thuộc tầng dưới lại đuổi theo mục tiêu nghiên cứu khoa học, đào tạo tiến sỹ.

        Liên quan tới sự phân tầng giáo dục ở Việt Nam là sự hiện diện của hệ thống các trường địa phương đã có từ hơn nửa thế kỷ nay. Trong lĩnh vực GDĐH, theo Luật Giáo dục 2019 tại các địa phương (Tỉnh/Thành phố trực thuộc TW) hiện có 2 loại hình cơ sở GDĐH địa phương là trường CĐSP địa phương (hin chỉ đào tạo giáo viên mầm non) và trường đại học địa phương ,đều do Bộ Giáo dục và Đào tạo quản lý . Các trường cao đẳng khác thuộc Giáo dục nghề nghiệp, do Bộ Lao động,Thương binh và Xã hội quản lý. Được ra đời từ rất sớm hệ thống trường địa phương có sứ mệnh phục vụ nhanh chóng nhu cầu đa dạng về nguồn nhân lực  cho chiến lực phát triển kinh tế – xã hội của địa phương và giúp cho người dân của địa phương được thêm cơ hội tiếp cận với giáo dục bậc cao, nên rất được người dân ở các địa phương hoan nghênh và trên thực tế đã đóng góp vai trò quan trọng trong thành tích tăng trưởng nhanh chóng của các địa phương. Tuy nhiên một số năm gần đây xuất hiện khuynh hướng  mạng lưới trường CĐSP địa phương đang bị teo tóplại do các trường bị cắt giảm nhiệm vụ (để tập trung cho một số ít trường ĐHSP trung ương) cũng như khuynh hướng xóa bỏ các trường đại học địa phương do phong tràovận động sáp nhập các trường đại học của địa phương vào một số đại học trọng điểm quốc gia để hy vọng các trường này được trở thành trường thành viên của các đại học đó. Theo Hiệp hội Các trường ĐH,CĐ Việt Nam đây là một động thái rất nguy hiểm, có thể dẫn đến nguy cơ làm suy yếu nghiêm trọng hệ thống giáo dục đại học-cao đẳng của đất nước. Tình hình này cần sớm được chấn chỉnh.

2. Về chất lượng giáo dục

2.1. Có quan niệm đơn giản cho rằng chỉ cần giảm quy mô đào tạo hoặc dồn chỉ tiêu đào tạo cho một vài trường “xịn” là có thể nâng cao được chất lượng giáo dục đại học, bắt nguồn từ cách nhìn kiểu “ học giả “ của giáo dục đại học tinh hoa để xem xét vấn đề chất lượng giáo dục đại học ở thời kỳ CNH, HĐH. Theo những học giả này thì chất lượng phải là cái tuyệt hảo và do vậy nó chỉ có được ở số ít, không thể có ở số đông.

Tuy nhiên, dưới cách hiểu của các nhà quản lý giáo dục hiện nay, không thể định ra một chuẩn mực chất lượng duy nhất cho tất cả các cơ sở đại học và cao đẳng. Trong các quy hoạch mạng lưới các trường đại học và cao đẳng của Việt nam ở nhiều năm qua có các loại hình trường khác nhau như đại học quốc gia, đại học khu vực, trường đại học trọng điểm, học viện, trường đại học, trường cao đẳng, trường đại học mở và trường cao đẳng cộng đồng. Mỗi loại trường có một sứ mệnh khác nhau và do đó, có những chuẩn mực chất lượng khác nhau nên không thể lấy cái nhìn kiểu “học giả”, “tinh hoa” để áp đặt các chuẩn mực chất lượng của các đại học quốc gia hay của các trường đại học trọng điểm cho các trường đại học địa phương, trường đại học mở, trường cao đẳng và cao đẳng cộng đồng để rồi cho rằng đó là những loại trường kém  chất lượng, không “xứng đáng” được đứng trong hàng ngũ đại học. Đây là quan điểm chính thức của tất cả các nước trong việc xây dựng hệ thống bảo đảm chất lượng và kiểm định chất lượng giáo dục đại học của mình.

      2.2.Một khuynh hướng nữa mới xuất hiện ở một số năm gần đây là hiện tượng cơ quan quản lý cùng với một số cơ sở đào tạo chạy theo hư danh, hạ chuẩn chất lượng của các văn bằng ,chứng chỉ đào tạo. Thí dụ như thay thế bằng trung học chuyên nghiệp/trung học nghề (thời gian đào tạo 3-4 năm) bằng bằng trung cấp (thời gian đào tạo 1-2 năm), hạ chuẩn trình độ của bằng cao đẳng (từ cấp độ 5 xuống cấp độ 4 theo ISCED-2011), giảm thời gian đào to trình độ đại học (từ 4-6 năm xuống 3-5 năm), thí điểm đại trà hệ đào tạo siêu tốc “9+cao đẳng”, loại bỏ nguồn nhân lực “kỹ thuật viên” trong nhiệm vụ đào tạo…Khuynh hướng này cần được chấn chỉnh sớm vì làm giảm vị thế quốc tế của giáo dục Việt Nam và gây mất đồng bộ trong lực lượng lao động dẫn tới giảm hiệu suất lao động.

3. Về cơ cấu trình độ đào tạo

Đào tạo nguồn nhân lực đòi hỏi phải đầu tư rất tốn kém. Do đó, các kế hoạch đào tạo nguồn nhân lực phải bám sát chiến lược phát triển kinh tế – xã hội của đất nước, thậm chí của từng vùng miền, từng địa phương và cần được phân cấp xây dựng tới tận từng địa phương. Các mục tiêu của giáo dục và đào tạo từ nay tới năm 2030 phải được xây dựng và phải thường xuyên được điều chỉnh xuất phát từ các mục tiêu về phát triển kinh tế – xã hội của đất nước đã được khẳng định trong các Văn kiện của các Đại hội VIII , IX , X , XI, XII và XIII. Căn cứ vào nhu cầu của thị trường nhân lực những năm gần đây, có thể rút ra một kết luận là chúng ta không thể đưa đất nước vượt qua đói nghèo, tiến nhanh, tiến kịp thời đại chỉ với nguồn nhân lực quá thấp kém về trình độ khoa học và công nghệ vì không được qua đào tạo nghề nghiệp (dù có thể có bằng tốt nghiệp THPT) hoặc  được đào tạo ở mức dưới chuẩn chuyên môn như hiện nay. Cũng không thể nóng vội phát triển ồ ạt nguồn nhân lực trình độ cao không tương thích với trình độ công nghệ đại trà của đất nước, vùng miền. Theo Báo cáo điều tra lao động và việc làm Việt Nam năm 2019 của Tổng cục Thống kê trong tổng số lực lượng lao động đang làm việc (55,76 triệu từ 15 tuổi trở lên) 77,2% không có trình độ CM-KT, 3,7% qua dạy nghề, 4,7% trung cấp, 3,8% cao đẳng và 10,6% đại học. Với cơ cấu trình độ nhân lực như vậy Việt Nam tất nhiên đã không đạt được mục tiêu trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020 vừa qua.Trong khi ở các nước khu vực đội ngũ công nhân được đào tạo chủ yếu từ trình độ trung học nghề trở lên, còn đội ngũ kỹ thuật viên chủ yếu từ trình độ cao đẳng trở lên thì ở Việt nam, đội ngũ công nhân (nhân lực trực tiếp sản xuất) được đào tạo chủ yếu ở các trình độ sơ cấp và dưới sơ cấp, số ít ở trình độ trung cấp và ”cao đẳng” (nhưng không tương đương với các cấp độ 2,3 và 5 của ISCED 2011); còn chức danh kỹ thuật viên thì đã bị loại bỏ khi các trường chuyên nghiệp được chuyển qua quản lý nhà nước của Bộ LĐ,TB và XH theo Luật Giáo dục NN. Nhận định đó cũng được phản ánh rõ nét qua kết quả đánh giá tổng hợp nguồn nhân lực của Tổ chức BERI (Business Enviroment Risk Intelligence) mà theo đó thì Việt Nam được xếp vào nhóm nước cuối cùng, nhóm nước có kỹ năng nghề nghiệp ở dưới mức tiêu chuẩn . Đây là một hạn chế lớn của đội ngũ nhân lực nước ta hiện nay và sẽ chưa thể được khắc phục chừng nào các chuyên gia hoạch định chính sách phát triển nhân lực cho Việt nam còn chưa nhận thức được trong điều kiện khoa học và công nghệ rơi vào một phổ rộng, từ giản đơn đến hiện đại, tương ứng với mỗi chức danh trong dây chuyền sản xuất có thể có nhiều trình độ đào tạo khác nhau chứ không phải cứ như nếp nghĩ quen thuộc rằng chỉ có một trong 3 trình độ đào tạo duy nhất (sơ cấp, trung cấp, cao đẳng – theo ngôi thứ chức danh).

        Xu hướng chung của giáo dục thế giới hiện nay là giáo dục nghề đang xâm nhập ngày càng sâu vào lĩnh vực giáo dục đại học, để cùng với giáo dục đại học truyền thống, hình thành nên nền giáo dục sau trung học (Postsecondary Education) và giáo dục bậc ba/giáo dục đại học (Tertiary Education/Higher Education), góp phần quan trọng đưa giáo dục đại học ở nhiều nước chuyển nhanh từ giai đoạn tinh hoa qua giai đoạn đại chúng và tiếp đó là giai đoạn phổ cập, đáp ứng kịp thời nhu cầu nhân lực cho sự ra đời một nền kinh tế tri thức ở những nước đó. Trong khi đó ở Việt Nam hai hệ thống này đang ngày càng tách xa nhau và đang được hoạch định bởi hai dòng chính sách độc lập với nhau. Việc tách trình độ cao đẳng ra khỏi giáo dục đại học để hợp nhất với các trình độ sơ cấp và trung cấp để hình thành một “bậc học riêng biệt” (theo Luật Giáo dục nghề nghiệp) là một biểu hiện rõ ràng của khuynh hướng đó.

4. Về cơ cấu ngành nghề đào tạo

Kinh nghiệm thế giới cho thấy muốn đẩy mạnh kinh tế của một quốc gia không phải chỉ cần có các nhà khoa học, các giáo viên, kỹ sư, các nhà kinh doanh, nhà quản lý…  mà còn phải có đội ngũ đông đảo các công nhân, kỹ thuật viên lành nghề, các chuyên gia công nghệ; nói  khác đi là còn cần phải có một đội ngũ nhân lực phong phú, thạo việc và đồng bộ trong các lĩnh vực kinh tế-xã hội. Bởi vậy, trong khu vực giáo dục đại học nếu chỉ chú ý phát triển phân hệ giáo dục hàn lâm hay học thuật (Academic/ University Education) chú trọng cung cấp kiến thức lý luận cho người học  như ở Việt nam hiện nay thì chưa đủ, nhất là khi đã triển khai các công nghệ cao. Một đặc điểm hết sức quan trọng của giáo dục sau trung học tại các quốc gia ” Con rồng Châu Á” là bên cạnh phân hệ giáo dục học thuật (không trùng hoàn toàn với phân hệ giáo dục đại học nghiên cứu như ở Việt Nam vẫn gọi) còn có phân hệ giáo dục công nghệ (Technological Education)/ giáo dục chuyên nghiệp (Professional Education) cho phép các trường công nghệ nhấn mạnh kỹ năng thực hành và khía cạnh huấn luyện của giáo dục công nghệ, và cũng cho phép các trường uyển chuyển hơn trong vấn đề thiết kế nội dung chương trình đào tạo để đáp ứng các nhu cầu của thị trường nhân lực một cách mềm dẻo và nhanh chóng hơn. Hai phân hệ này sẽ rất khác biệt về mục tiêu đào tạo, cấu trúc nội dung chương trình đào tạo cũng như về tiêu chuẩn đội ngũ giảng viên, cơ sở vật chất, chi phí đào tạo…Nhờ có được cả 2 loại nhân lực ở trình độ đại học như vậy nên các nước này đã rút ngắn được tiến trình công nghiệp hoá của mình, lẽ ra phải diễn ra sau hàng thế kỷ, song trên thực tế chỉ cần vài ba thập kỷ. Trong khi đó ở Việt Nam những cố gắng của cả cấp vĩ mô cũng như ở cấp vi mô lại vẫn hướng  các trường chủ yếu đi theo phân hệ thứ nhất.

     Một vấn đề nữa cũng cần được xem xét đến là đang có quan niệm chỉ cần cố gắng đào tạo ra thật nhiều một đội ngũ nhân lực chất lượng, tập trung vào một vài ngành nghề “hot”,”thời thượng” là đảm bảo cho đất nước có được sự phát triển thần kỳ, đi tắt đón đầu. Tuy nhiên kinh nghiệm ở các quốc gia “con rồng Châu Á” cho thấy ước mơ đó chỉ thành hiện thực khi có được một đội ngũ nhân lực chuyên nghiệp đa dạng về thể loại và trình độ, có cơ cấu hợp lý, đồng thời phải phù hợp với thực trạng của đất nước, ở từng vùng lãnh thổ, ở từng thời gian cụ thể, xét trên mọi phương diện: chất lượng nguồn tuyển, mức độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tình trạng công nghệ, chính sách gọi đầu tư, chiến lược phát triển kinh tế-xã hội,…Từ đó mới hy vọng xây dựng được chiến lược nhân lực hợp lý, khả thi. Do không nắm vững nguyên tắc như vậy nên ở không ít địa phương có tình trạng lao động có kỹ năng do các trường đào tạo ra lại bị thất nghiệp (cái mà ta quen nói là hiện tượng “thừa thày”) vì nhiều doanh nghiệp liên doanh nước ngoài do chạy theo công  nghiệp lắp ráp-chế biến, không muốn đầu tư vào công nghip chế tạo nên chỉ ưu tiên tuyển mộ lao động giản đơn vào làm việc. Một thí dụ khác là ở khu vực nông-lâm-ngư nghiệp có lực lượng lao động chiếm tới 67,6% (năm 2019) nhưng chỉ mang đến tỉ trọng khoảng 15,2% GDP vì tuyệt đại đa số lao động ở đây không được qua đào tạo chuyên môn-kỹ thuật (mặc dù có văn hóa không thấp),chứ chưa nói tới họ chưa hề được trang bị những hiểu biết cần thiết về nông nghiệp công nghệ cao (như ở Israel chẳng hạn) , để nâng cao năng suất lao động .

5. Về sự phân luồng học sinh – sinh viên

Kinh nghiệm thế giới cho thấy càng đi sâu vào tiến trình công nghiệp hóa thì cơ cấu trình độ và cơ cấu ngành nghề sẽ càng đa dạng hơn; và để đáp ứng được sự đa dạng đó, hệ thống giáo dục của quốc gia bắt buộc phải phân luồng mạnh. Có hai hướng phân luồng chính: phân luồng học sinh bắt đầu từ sau trung học phổ thông (thường diễn ra ở các nước phát triển) và phân luồng học sinh từ sau trung học cơ sở (diễn ra ở các nước đang phát triển).

         Đối với Việt Nam, định hướng phân luồng từ sau trung học cơ sở của hệ thống giáo dục đã thể hiện ngày càng rõ hơn qua các văn bản pháp quy ( Luật Giáo dục, Luật Giáo dục Đại học, Nghị quyết 29-NQ/TW, …). Tuy nhiên thực tiễn đào tạo nguồn nhân lực của nước ta trong nhiều năm qua lại diễn ra hoàn toàn theo chiều hướng trái ngược. Thí dụ, theo Thống kê giáo dục năm 2010-2011, 81,1% học sinh sau tốt nghiệp THCS được tuyển vào THPT, 9,86% gia nhập thị trường lao động. Chính tỷ lệ nhập học THPT cao như vậy đã dẫn tới tình trạng quy mô học sinh hệ trung cấp chuyên nghiệp và dạy nghề quá thấp so với quy mô sinh viên đại học – cao đẳng (mặc dù tỷ lệ nhập học đại học của Việt Nam vẫn còn ở dưới mức trung bình của thế giới) cũng như nhiều gay cấn khác có liên quan tới sự quá tải của các kỳ  tuyển sinh đại học, cao đẳng hàng năm.Trong khi đó ở nhiều quốc gia lánggiềng với Việt Nam phân luồng học sinh sau THCS có thể dễ dàng đạt tới tỉ lệ là 30% vào Trung học phổ thông và 70% vào Trung học nghề/Trung học kỹ thuật.Nét khác biệt của Trung học nghề (ở các nước này)với Trung cấp (của Việt Nam hiện nay) là ở chỗ khác với Trung cấp, Trung học nghề có cùng cấp độ 3 với THPT nên học sinh học hệ này hoàn toàn có quyền được học, khi có nhu cầu, lên các trình độ cao hơn thuộc GDĐH. Do đó đẻ dễ tạo ra phân luồng học sinh sau THCS Việt Nam cũng nên sớm chuyển hệ Trung cấp về lại hệ Trung học nghề/Trung học kỹ thuật như thời gian trước năm 2005.

        Việc hợp nhất mục tiêu đào tạo của 2 luồng giáo dục chuyên nghiệp (đào tạo chuyên gia) với giáo dục nghề (đào tạo thợ) như ở Luật Giáo dục NN và sau đó lại có chỉ đạo theo hướng “nghề” đã dẫn tới thủ tiêu sự hiện diện của chức danh “kỹ thuật viên” trong dây chuyền sản xuất. Đây là một quyết định sai lầm nghiêm trọng, gây ra sự méo mó trong cơ cấu nhân lực của quốc gia, nên cần được khắc phục sớm.

6. Một số đề xuất

6.1. Chiến lược giáo dục của Việt Nam  cần được định ra qua một số bước theo nguyên tắc:

Giáo dục đi trước một bước (mặc dù phải chấp nhận nguồn lực hạn hẹp) để tạo ra nguồn nhân lực đồng bộ, lành nghề, từ đó thúc đẩy kinh tế phát triển (kể cả tạo điều kiện thuận lợi để gọi vốn đầu tư công nghệ cao). Nhờ vậy ngân sách Nhà nước mới tăng kéo theo tăng ngân sách cho giáo dục.

Với các bước đi như vậy nên không thể có một lời giải đúng đắn duy nhất  mà chỉ có một loạt những lời giải tối ưu cho từng thời gian khác nhau đối với bài toán quy hoạch phát triển giáo dục và đào tạo và quy hoạch phát triển nhân lực của Việt nam, trên quy mô toàn quốc gia cũng như theo từng vùng lãnh thổ.

6.2. Hiện nay cũng như trong thời gian tới, ngành giáo dục và đào tạo không nên tập trung mọi nỗ lực nhằm thoả mãn tối đa các mục tiêu dân trí. Do đó cần xem xét lại cơ chế phân bổ ngân sách giáo dục và nguồn lực huy động từ xã hội theo hướng ưu tiên đầu tư đồng thời vào 2 mục tiêu: Phổ cập giáo dục cơ bản(bao gồm giáo dục tiểu học và giáo dục trung học cơ sở) và Đào tạo nguồn nhân lực đồng bộ, lành nghề(bao gồm  các trình độ đào tạo sau đại học, đại học, cao đẳng thực hành và trung học nghề/trung học kỹ thuật). Phải triển khai phân luồng triệt để học sinh từ sau bậc trung học cơ sở và cần xem đây là giải pháp cơ bản để nâng tỉ lệ lao động qua đào tạo lên, chứ không phải sử dụng giải pháp kêu gọi bóp nghẹt đầu vào đại học với lập luận “thừa thày thiếu thợ”, bởi vì tỷ lệ nhập học đại học ở nước ta vẫn còn thấp, không tương thích với mục tiêu CNH, HĐH.

           6.3. Nguyên tắc chung là đất nước muốn phát triển theo hướng CNH, HĐH thì phải tạo ra được sự chuyển dịch nhanh của cơ cấu lao động, theo hướng giảm tỷ trọng lao động trong khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản, tăng tỷ trọng ở các khu vực công nghiệp và dịch vụ. Tuy nhiên chỉ sự dịch chuyển này thôi cũng chưa thể tạo ra được tăng trưởng nhanh nếu như trên cả nước cũng như ở từng vùng miền còn chưađược cơ cấu nhân lực (về trình độ và nghề nghiệp) và chính sách đầu tư vào công nghệ phù hợp trong cả ba khu vực kinh tế nêu trên. Đây cũng là nguyên nhân chính gây ra cái gọi là “tình trạng thừa thày thiếu thợ” hiện đang được nhiều người phê phán.

          6.4. Trong điều kiện nguồn lực còn hạn hẹp Nhà nước cần có cơ chế chính sách rõ ràng để định hướng cho sự phát triển hài hòa và ổn định của toàn hệ thống giáo dục đại học và chuyên nghiệp, thông qua phát huy tối đa sức mạnh tổng hợp và hiệu quả của toàn hệ thống, đặc biệt đối với khu vực trường trực thuộc Trung ương (nhận ngân sách giáo dục Nhà nước), trên cả 2 phương diện: mạng lưới trường và quy trình đào tạo. Thiết lập cơ chế mở, liên thông đào tạo, kiên quyết xoá bỏ tình trạng khép kín, cát cứ, tư tưởng cục bộ ở từng trường hoặc từng ngành trong hệ thống như hiện nay. Để làm được điều đó quản lý nhà nước về giáo dục – đào tạo phải được tập trung về cùng một đầu mối như rất nhiều nước đã làm (thí dụ như trong Bộ Giáo dục của Thái Lan có 3 Tổng cục là: giáo dục phổ thông, giáo dục đại học và giáo dục nghề) và theo đúng tinh thần Nghị quyết Trung ương 19.

6.5. Trong lĩnh vực quản lý giáo dục cần kiên quyết xóa bỏ ngay cơ chế xin – cho, thực hiện quyền tự chủ – trách nhiệm giải trình thực sự của các cơ sở giáo dục đại học trên cơ sở thiết lập cơ chế hội đồng trường đích thực, tiến tới xóa bỏ cơ chế bộ chủ quản. Thời gian qua hưởng ứng chủ trương thí điểm tự chủ đại học một số trường đại học đã đạt được những bước phát triển kỳ diệu. Tuy nhiên hiện nay khuynh hướng này đang bị chững lại và nếu muốn nhân rộng ra cho toàn hệ thống (như tinh thần của Luật GDĐH 2018) thì Nhà nước cần phải sớm điều chỉnh hàng loạt luật và văn bản dưới luật hiện hành cho phù hợp với chủ trương này để không gây khó cho các trường muốn đổi mới thực sự. Ngoài ra cần có chính sách lôi cuốn các tổ chức xã hội – nghề nghiệp tham gia giám sát các cơ sở giáo dục đại học trong việc thực hiện các chuẩn mực (trong đó có các chuẩn mực chất lượng ) được quy định tại Điều 68 Luật Giáo dục đại học 2018 .

6.6. Thực hiện triệt để chủ trương xã hội hóa giáo dục của Đảng. Đối với lĩnh vực giáo dục đại học, Nhà nước cần sớm làm rõ những vấn đề về sở hữu, tính chất vì lợi nhuận và không vì lợi nhuận, trách nhiệm của các cơ sở GDĐH, cơ chế chính sách phù hợp… như đã nêu tại Nghị quyết 05/2005/NQ-CP của Chính phủ. Đồng thời Nhà nước cần có chủ trương thực sự khuyến khích các cơ sở GDĐH không vì lợi nhuận, hoàn thiện quy chế trường đại học tư hoạt động không vì lợi nhuận và các chế độ chính sách ưu đãi cụ thể cho các cơ sở GDĐH loại này.

7.Về kiến nghị tái cấu trúc hệ thống giáo dục quốc dân đáp ứng nhu cầu nhân lực cho Việt Nam trong các thập niên đầu của thế kỷ 21

7.1.Từ những điều đã trình bày ở trên có thể nhận thấy vướng mắc cơ bản về thể chế giáo dục hiện nay nằm ở cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân, được thể hiện tại các luật về giáo dục và nhiều văn bản dưới luật. Cơ cấu hệ thống giáo dục này về cơ bản không đáp ứng những định hướng quan trọng trong Nghị quyết Trung ương 29 về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo.Những biểu hiện cụ thể là:

Toàn hệ thống không có sự nhất quán do khối Giáo dục nghề nghiệp được tách riêng biệt. Do không phải là một bậc học nên không thể xem khối này nằm ở vị trí trên giáo dục trung học và dưới giáo dục đại học. 

        Ngay giữa các trình độ sơ cấp, trung cấp và cao đẳng trong khối đó cũng không có sự liên thông thực sự. Luật Giáo dục Nghề nghiệp quy định muốn được dự tuyển vào cao đẳng thí sinh phải đồng thời vừa có bằng trung cấp vừa có bằng tốt nghiệp THPT (hoặc đã học và đạt yêu cầu đủ khối lượng kiến thức văn hóa THPT). 

       Từ cao đẳng chuyển lên đại học lại càng không dễ dàng chút nào vì có sự khác nhau về mục tiêucấu trúc chương trình đào tạo (do 2 cơ quan quản lý Nhà nước khác nhau quy định).

Không có sự hội nhập quốc tế về giáo dục và đào tạo. Theo Phân loại giáo dục theo tiêu chuẩn quốc tế của UNESCO (ISCED 2011 ), thì các trình độ sơ cấp và trung cấp ở Luật Giáo dục Nghề nghiệp không tương ứng với bất kỳ một cấp độ nào của ISCED 2011. Ngoài ra ISCED-2011 cũng quy định trình độ cao đẳng phải tương ứng với cấp độ 5 (thuộc về giáo dục đại học) trong khi theo Luật Giáo dục Nghề nghiệp thì cao đẳng chỉ được xem nằm ở cấp độ 4 (dưới giáo dục đại học). 
Không có sự phân luồng học sinh sau trung học cơ sở cũng như sau trung học phổ thông. Việc rẽ nhánh học sinh sau THCS là lối đi vào “ngõ cụt” vì người học không có hướng học lên cho dù là cao đẳng, vì muốn học lên cao đẳng còn cần phải có cả bằng tốt nghiệp THPT.

        Do đó xu hướng chung, như từ trước đến nay, sau THCS người học đều cố đi vào THPT. Còn sau THPT người học thường có xu hướng  đi vào đại học vì nếu đi vào cao đẳng thì sau này sẽ rất khó học tiếp lên đại học (do cấu trúc chương trình ở hai trình độ này lại được hai cơ quan quản lý nhà nước khác nhau quy định theo những định hướng khác nhau, rất khó liên thông với nhau).

        7.2.Để khắc phục hạn chế trên những năm vừa qua Hiệp hội các trường ĐH&CĐ Việt Nam, Hội Khuyến học Việt Nam và Hiệp hội Vì giáo dục cho mọi người đã trình lên Chính Phủ bản kiến nghị tái cấu trúc hệ thống giáo dục cho các thập niên đầu thế kỷ 21. Sơ đồ tái cấu trúc chủ yếu chỉ động chạm tới các phân hệ đào tạo nguồn nhân lực, với giả định giữ nguyên phân hệ giáo dục phổ thông (theo tinh thần Nghị quyết 29-NQ/TW). Các căn cứ để thiết kế sơ đồ này là :

Những định hướng cơ bản của Nghị quyết Trung ương 29-NQ/TW về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập quốc tế (hình thành một hệ thống giáo dục mở, thực hiện liên thông giữa các bậc học và trình độ,đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế, gắn với nhu cầu phát triển kinh tế-xã hội, phân luồng mạnh học sinh sau trung học cơ sở, …).
Những định hướng cơ bản của Nghị quyết Chính Phủ 14/2005/NQ-CP về đổi mới cơ bản và toàn diện giáo dục đại học Việt nam giai đoạn 2006-2020.
Các nguyên tắc cơ bản của Phân loại giáo dục theo các tiêu chuẩn quốc tế đã được UNESCO ban hành (ISCED 2011) và Khung tham vấn các trình độ ASEAN.

Nét cơ bản của sơ đồ là việc thực hiện triệt để  phân luồng học sinh sau THCS theo hai hướng: 50% theo hướng THPT (General Secondary) và ít nhất 30% theo hướng trung học hướng nghiệp, bao gồm trung học nghề/trung học kỹ thuật (Vocational/ Technical Secondary). Có chính sách ưu đãi khuyến khích học sinh đi vào hướng trung học nghề/trung học kỹ thuật. Khi vào khu vực giáo dục đại học, hai hướng phân luồng tiếp theo và liên thông với hai hướng trên là: hướng nghiên cứu (Academic) và hướng ứng dụng-thực hành (Professsional), bảo đảm tỷ lệ sinh viên giữa hai hướng này là 20-30:80-70.

7.3. Để cấu trúc lại hệ thống giáo dục quốc dân cho đồng bộ với thực trạng phát triển của chính mình và phù hợp với xu hướng quốc tế, thì trước hết phải triển khai một loạt các giải pháp cấp bách như: nhà nước chỉ đạo tập trung ở tầm vĩ mô, kết hợp với phân cấp hợp lý cho các địa phương, Bộ, Ngành; trả trình độ cao đẳng về cho giáo dục đại học; tổ chức xây dựng hệ thống trường trung học nghề/trung học kỹ thuật bảo đảm học sinh tốt nghiệp vừa có trình độ học vấn vừa có nghề thành thạo (thông qua các giải pháp: đổi tên và chức năng trường trung cấp nghề thành trường trung học nghề, chuyển đổi các trường trung cấp chuyên nghiệp thành trường cao đẳng thực hành hoặc trường trung học nghề/trung học kỹ thuật, hợp nhất một bộ phận trường THPT với các trung tâm dạy nghề địa phương thành trường trung học nghề/trung học kỹ thuật…); quy hoạch lại các trường đại học theo hai hướng: hướng nghiên cứu và hướng ứng dụng-thực hành; ban hành các chuẩn quốc gia về giáo dục (trong đó có khung trình độ quốc gia, các chuẩn chương trình); xây dựng mạng lưới các trung tâm kiểm định độc lập chất lượng giáo dục; …

        Về lâu dài, phải từng bước sáp nhập một số viện nghiên cứu khoa học vào các trường đại học trọng điểm để hình thành các đại học nghiên cứu; từng bước xóa bỏ cơ chế bộ chủ quản, tập trung chức năng quản trị cho hội đồng trường,trao quyền tự chủ thực sự cho cơ sở giáo dục ĐH; chuyển một bộ phận cơ sở GDĐH công lập qua cơ chế tự chủ, tự hạch toán tài chính; xây dựng một số học viện công nghệ dựa trên việc hợp nhất và tổ chức lại các cơ sở giáo dục và các viện nghiên cứu chuyên ngành theo hướng công nghệ mũi nhọn trực thuộc trung ương; tổ chức lại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp tại từng địa phương để hình thành các cao đẳng/đại học cộng đồng; củng cố và nâng cao năng lực cho hai trường đại học mở,chủ yếu triển khai phương thức đào tạo từ xa. Ngoài ra, rất cần thường xuyên điều chỉnh cơ cấu phân luồng người học dựa theo dịch chuyển cơ cấu kinh tế cả ở tầm quốc gia lẫn tầm địa phương.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII. 2021.
2. Nghị quyết 29-NQ/TW Hội nghị Trung ương 8 Khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập quốc tế.

         3.  Nghị quyết 14/2005/NQ-CP ngày 2/11/2005 của Chính phủ về đổi mới cơ bản và toàn diện giáo dục Việt Nam giai đoạn 2006-2020.

         4  Luật Giáo dục 2005 và 2019.

         5  Luật Giáo dục đại học 2012 và 2018.

         6.  Luật Giáo dục nghề nghiệp 2014.

         7.  Tổng cục Thống kê. Báo cáo Điều tra lao động việc làm các năm 2017, 2018, 2019 và 2020.

         8. Lê Viết Khuyến: Về định hướng chiến lược đào tạo nguồn nhân lực cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam . Tạp chí giáo dục số 11 ( 8/2001 )

9. Phạm Phụ: Một hệ thống “ giáo dục sau trung học phổ thông“.- Về khuôn mặt mới của Giáo dục đại học Việt Nam. T.2. Nhà xuất bản ĐHQG tp. HCM.2010.

10. Bộ Giáo dục và Đào tạo – Đề án đổi mới giáo dục đại học Việt Nam; 2005.

         11. UNESCO- International Standard Classification of Education ISCED 1997,2011.

         12. The ASEAN Qualifications Referennce Framework (Final Text). March 2014.

13. SEAMEO RIHED & UNESCO PROAP – Handbook on Diplomas, Degrees and other Certificates in Higher Education in Asia and the Pacific; 1998.

          14. Gross enrolment ratio – Tertiary Education (ISCED 5 and 6).

World Bank 2012.

                                   Hà Nội, Tháng 6/2021

Lê Viết Khuyến PCT Hiệp hội Các trường ĐH,CĐ Việt Nam